Suy
Nghĩ
VỀ VIỆC TUYÊN DƯƠNG CUỘC TỬ
ĐẠO
CỦA THẦY ANRÊ PHÚ
YÊN
Lm. Dương Hữu Nhân,
O.M.I.
(Hồ Ngọc Tâm chuyển dịch
từ nguyên bản tiếng Pháp)
Đúng vào lúc
cuộc họp Thượng Hội Đồng các Giám mục về Á Châu khai diễn tại Rôma, có sự tham dự
của một phái đoàn quan trọng đại diện cho Việt Nam, thì một sự kiện khác cũng đang được chuẩn
bị. Sự kiện nầy hẳn sẽ ghi khắc dấu ấn lâu dài trong đời sống của Dân Chúa Việt Nam
trong cũng như ngoài nước. Thật vậy, công trình nghiên cứu và sưu tầm về vụ án người
Tôi Tớ Chúa là Anrê Phú Yên đã hoàn tất mỹ mãn. Từ nay con đường đã rộng mở Giáo Hội có thể
chính thức công nhận cái chết vì đạo của ngài và tôn vinh ngài là vị chân phước để noi theo
gương ngài và xin ngài hỗ trợ.
*
ANRÊ PHÚ YÊN LÀ AI ?
Người mà từ
xưa người ta quen gọi là "Thầy giảng Anrê", sinh tại tỉnh Phú Yên năm 1625. Rửa tội năm 15
tuổi, cùng lúc với bà mẹ goá và các anh chị, do chính cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes). Lúc đó
Anrê đã bắt đầu học chữ Nho.
Một năm sau, Anrê xin được thu nhận vào nhóm các thầy
giảng giáo lý do cha Đắc Lộ mới thành lập. Vì tuổi còn trẻ, cần phải được hoàn tất chương
trình đào tạo, Anrê được gửi gắm cho vị quan thuộc nhóm thầy giảng tên là Inhaxiô,
một người được vị thừa sai tin cậy và là trụ cột của cộng đồng Công Giáo còn non
trẻ. Anrê tiến triển vượt bậc trong việc học các kinh sách truyền thống, nhất là về đức tin
Kitô Giáo, đồng thời đảm nhận những công việc thấp hèn nhất để phục vụ Nhà Chúa và
luyện tập công tác giảng dạy.
Nhóm này gồm khoảng mười hai
người, có cả người lớn tuổi lẫn thanh thiếu niên, được cha Đắc Lộ hướng dẫn. Nhóm đã
đạt được những thành công đáng kể trong việc rao giảng Tin Mừng. Điều này đã làm nảy
sinh lòng đố kỵ và tình trạng căng thẳng trong triều đình Chúa Nguyễn, cũng như tại xứ Quảng
Nam là nơi có trung tâm sinh hoạt truyền giáo chính của nhóm. Vị quan trách nhiệm
chính quyền dinh Quảng Nam thề sẽ tiêu diệt Inhaxiô, và đã nhận được giấy phép cho bắt giam và
kết án tử hình ngài. Theo kế hoạch của nhà cầm quyền thì "đạo của người Bồ Đào Nha" chỉ dành
riêng cho người ngoại quốc, và mọi việc truyền đạo cho người Việt Nam phải bị cấm
chỉ.
Inhaxiô vắng mặt khi lính đến tìm bắt ngài. Thầy
Anrê trẻ tuổi lúc ấy đang ở nhà một mình, và thầy đã tình nguyện nộp mình thế chỗ cho người
anh cả của mình. Trước toà án của quan đầu tỉnh Quảng Nam, Anrê đã tuyên xưng đức tin một cách
phi thường, không giây phút nào nao núng: "Ước chi tôi có được ngàn mạng sống của tôi để hiến
dâng tất cả cho Chúa hầu đền đáp ơn Ngài". Bị kết án, Anrê chờ đợi cái chết một cách rất bình
thản, lòng đầy hân hoan, chỉ xin mọi người cầu nguyện cho Thầy, để Thầy được "...giữ
nghĩa cùng Đức Chúa Giêsu cho đến hết hơi, cho đến blọn [trọn] đời". Anrê chết do
nhiều nhát giáo đâm rồi bị chặt đầu, miệng không ngớt kêu tên Giêsu. Ngày ấy là ngày 26 tháng
bảy năm 1644. Anrê vừa được 19 tuổi. Đắc Lộ ở bên cạnh Thầy. Đứng vây quanh Anrê còn có nhiều
tín hữu Công Giáo Việt Nam và ngoại quốc, cũng như đông đảo đồng bào ngoài công giáo. Mọi
người rất xúc động trước sự tuyên xưng đức tin của Thầy. Gương tử đạo của Thầy lập tức nổi
danh, và qua những lời chứng và tường thuật, đã lan truyền ra đến nhiều nước tận
Rôma. Toà Giám mục Áo Môn (Macao), nơi có rất nhiều nhân chứng sinh sống, đã đón
nhận thi hài Thầy hết sức trọng thể, và tổ chức ngay trong tháng 12 năm ấy hồ sơ xin phong
chân phước cho Anrê. Chính hồ sơ này ngày nay đã cung cấp cơ sở lịch sử chủ yếu giúp Giáo Hội
có thể căn cứ vào để phán quyết.
*
117 VỊ TỬ ĐẠO, CHỪNG ẤY CHƯA ĐỦ SAO ?
Đó là một nhận định bài bác chúng ta đã từng được nghe. Việt Nam đã có
117 vị tử đạo đã được phong hiển thánh, trong đó có 96 vị là người bản xứ. Như vậy thì nào có
gì hơn nếu thêm vào người thứ 118 hoặc người thứ 97 ? Quan điểm ấy, theo chúng tôi, là quá
thiển cận. Thật vậy, Anrê Phú Yên không phải là người thứ 118, nhưng chính là người
tiên khởi, và là người anh đầu của tất cả. Người ta sẽ nghĩ gì về một gia đình Việt Nam, khi
mà người anh cả bị bỏ quên, bị xem như không quan trọng, và không được đặt di ảnh lên trên bàn
thờ tổ tiên ? Con đường hẹp, khó khăn, gian khổ để nên thánh của người Việt Nam, chính Anrê là
người đi tiên phong. Nếu không có ân sủng đặc biệt, duy nhất, của Thiên Chúa, Thầy hẳn đã
không bước đi được trên con đường ấy. Chúng ta là ai mà có thể nhắm mắt làm ngơ
trước mầu nhiệm ấy ?
Hiện nay, người anh cả của những người Việt Nam đã
được phong thánh tử đạo là Vinh Sơn Liêm, chết năm 1773. Thánh Liêm là một khuôn mặt lớn, đầy
đủ nhân đức để cho chúng ta học tập. Nhưng ngài đã đi du học trong nhiều năm ở nước ngoài, và
ngài là một linh mục. Địa vị của vị "tử đạo tiên khởi" phải thuộc về Anrê, chết 129 năm trước
thánh Liêm, với lòng can cường không kém. Hơn nữa, Anrê là một người con của đất nước, mang
trong mình 100% nền văn hoá của đất nước, Thầy là một giáo dân Công Giáo. Vì thế,
chắc hẳn Anrê là tiêu biểu trực tiếp hơn cho khối đa số vô danh của những người Công Giáo Việt
Nam, nhất là những người thuộc những thế hệ đầu tiên, nhờ vào sự khôn ngoan và tính kiên
cường, họ đã khám phá ra phương cách Việt Nam để sống đạo.
Đối chiếu với phần
lớn các vị tử đạo được tôn phong năm 1988, Anrê biểu hiện một kinh nghiệm đặc sắc và có thể là
sống động hơn cho ngày nay, do bối cảnh lịch sử hoàn toàn khác biệt. Những thế hệ Công Giáo
tiên khởi được sinh ra trong bối cảnh của một nước Việt Nam hoàn toàn độc lập đối với các thế
lực Phương Tây, không bao giờ Bồ Đào Nha, nước đã gửi đi các nhà thừa sai, đã can
thiệp vào công việc của Việt Nam bằng bất cứ cách nào, dù là để bênh vực cho người Công
Giáo.
Những đồng bào không Công Giáo, đại đa số đã tỏ ra hết sức
ngưỡng mộ đối với chàng trai trẻ có lòng can đảm bất khuất này. Họ cảm nhận được nơi Anrê tình
thương mà Thầy đã đem đến cho tất cả những người đồng hương của Thầy, một sự việc mà những
nhân chứng đã nói đến, và họ đã đáp lại tình thương đối với Thầy. Đó là một sắc thái khá độc
đáo trong cái chết của Anrê. Đến thế kỷ 18 và 19 thì các tình huống và tâm trạng đã biến
chuyển.
Cần phải nói thêm một điểm chót. Lịch sử rao giảng Tin Mừng ở Việt Nam đã
ghi lại nhiều cuộc cạnh tranh và căng thẳng ngay cả trong nội bộ của cộng đồng Công Giáo.
Trong thời đại của Anrê, ngược lại, theo tất cả các chứng cớ và những tài liệu,
người Công Giáo yêu thương nhau như anh em, đến độ lúc bấy giờ người ta gọi đạo Công
Giáo là "đạo của những người yêu thương lẫn nhau".
Anrê phải lấy lại địa
vị của mình, địa vị tiên khởi, trong bảng danh sách các thánh của nước Việt Nam, và cũng để
làm chứng cho thời đại hoàng kim của cộng đồng Công Giáo. Chính đó là nguồn đích thực mà người
Công Giáo thời nay được mời gọi trở về.
*
MỘT GƯƠNG MẪU PHẢI NOI THEO
Khi
nói đến lịch sử khởi công xây dựng Giáo Hội tại Việt Nam, người ta có thói quen đưa
ra một vài nhân vật lịch sử lớn, đặc biệt là nhân vật Đắc Lộ. Điều này không có gì cần phải
cải chính. Nhưng lịch sử của Anrê còn chứng tỏ rằng : Giáo Hội cũng đã được xây đắp nhờ vào
những nỗ lực của số đông giáo dân Việt Nam thuộc những thế hệ đầu tiên. Ở vào thời của Anrê,
thừa sai chỉ thỉnh thoảng mới có thể đến, và không thể sống thường xuyên ở trong nước. Chính
vì lý do này mà những thầy giảng phải lên phiên thay thế họ.
Anrê là tiêu biểu cho
tất cả những thừa sai Việt Nam vô danh này, là những anh hùng trong cuộc sống trước
khi tỏ ra anh hùng trong cái chết. Người ta không thể không nghĩ rằng chính họ là
những thừa sai thực sự, vì chỉ có họ mới đủ sức bảo đảm cho sự liên tục và sự tiến triển
của cộng đồng Công Giáo. Thử hỏi tình trạng này không phải là giống như tình trạng
ngày nay tại nhiều nơi mà sự lui tới của linh mục bị hạn chế đó sao ? Chính ở điểm này mà Anrê
là một gương mẫu của đời sống Công Giáo rất thích hợp cho thời nay. Thực thế, thật
khó mà chọn Đắc Lộ làm gương mẫu để noi theo, nếu không muốn nói là một cách gián tiếp. Ngài
đại diện cho một thời đại vẻ vang, nhưng đã qua, của sứ mạng truyền giáo. Nhưng thời
đại của Anrê, thời đại này, không bao giờ là không có.
Là một tín đồ Công
Giáo gương mẫu, Anrê nêu gương về nhiều mặt. Chính Thầy đã tuyên bố với quan toà rằng : Thầy ở
với vị thừa sai "để có dịp học hỏi và tìm hiểu cho thấu đáo đức tin Kitô Giáo của
mình". Tất cả những ngôn từ kể lại về Thầy chứng tỏ Thầy đã đạt đến một trình độ cao
thâm trong sự hiểu biết và thực hành đời sống Công Giáo. Thầy đã tóm gọn trong một câu : "Đi
theo Thầy Giêsu của tôi cho đến chết".
Anrê còn là một gương mẫu có tính
cách rộng lớn hơn nữa. Thầy chết có những người Công Giáo thuộc nhiều nước vây quanh, tất cả
đều một lòng ngưỡng mộ và tôn kính Thầy. Thi hài Thầy được đến Macao đã đem lại cho thành phố
này một sự hoà giải rộng rãi, trong lúc tại đây đang có những tranh cãi đau buồn
từng chia rẽ tín hữu Công Giáo từ nhiều năm qua. Như thế, chàng tuổi trẻ Anrê không thể biểu
hiện cho sự bình an và sự hoà hợp mà chúng ta hằng cầu mong có được trong Giáo Hội và giữa
nhiều dân tộc sống trên địa cầu đó sao ?
*
TẠI SAO PHẢI ĐỢI QUÁ LÂU ĐỂ TÔN PHONG CHO ANRÊ ?
Khi Anrê bị giam, những người đến thăm quá xúc động, xin Thầy cầu nguyện
cho họ. Anrê trả lời họ rằng chính Thầy là người tội lỗi đáng thương, và lẽ ra họ phải cầu
nguyện cho Thầy, để Thầy được trung thành cho đến cùng. Đức khiêm tốn sâu thẳm này có thể nói
được là số mệnh của Anrê. Số mệnh này chắc cũng đã đeo theo vụ án của Thầy khiến phải tụt lại
đằng sau vụ án của các vị tử đạo khác của thời rất gần đây hơn ...
Ngay từ năm
Anrê vừa qua đời, người ta đã hăm hở tiến hành ngay hồ sơ xin phong chân phước.
Nhưng chẳng may diễn tiến công việc vướng mắc vào những cạm bẫy của lịch sử. Vào năm
1649, vụ án đã đến Rôma, và đã được Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin đứng ra bảo trợ. Nhưng luật
Giáo Hội quy định phải có một bản điều tra thứ hai, tiên liệu việc thẩm cứu các nhân chứng,
hình như chủ yếu phải là người Việt Nam, về những câu hỏi do Toà Thánh đặt ra. Do những cuộc
bách hại, nên phúc trình thứ hai nầy đã không bao giờ được kết thúc. Lúc bấy giờ chỉ nghe được
ở một nhân chứng : chính con trai của người đứng đầu cộng đoàn Công Giáo, cùng bị giam với
Anrê, nhưng đã được ân xá vì đã 73 tuổi.
Cũng phải nói thêm rằng, một mặt
các nhân chứng trực tiếp lần lượt mất đi, mặt khác, cộng đồng Công Giáo Việt Nam thì bị xâu xé
bởi những chia rẽ trầm trọng, do đó mà nguyện vọng của dân Chúa muốn tôn vinh tử đạo cho Anrê
dĩ nhiên cũng bớt phần tha thiết... Vụ án Anrê được xúc tiến tại Rôma do các cha Dòng Tên,
Dòng của cha Đắc Lộ. Và rủi thay, vào thời kỳ đó, các cha Dòng Tên ở Việt Nam bị phê
bình nghiêm khắc tại Rôma, thậm chí bị lên án về nhiều việc, trong đó có vấn đề "lễ
nghi Trung Hoa". Do đó không còn ai sốt sắng bênh vực cho vụ án do các cha này trình
lên, dẫu Anrê không có điểm nào đáng chê trách, Thầy đã chết vẻ vang trước khi xảy ra tất cả
những khó khăn này.
Vào cuối thế kỷ 20, và một lần
nữa, trong thời gian họp Công Đồng Vaticanô II, vụ án được xúc tiến trở
lại. Nhưng lúc bấy giờ lại có quyết định phải có những cuộc sưu tra thật chính xác và lâu dài.
Những công việc này đã không hoàn tất, bởi lẽ những sử gia được chỉ định đã chết hoặc đã gặp
trở ngại. Đến năm 1996, vụ án đã được mở lại: một uỷ ban sử gia mới đã được chỉ định, và cuối
cùng thì các công việc nghiên cứu của họ đã đạt được kết quả theo ý nguyện. Bấy giờ
Toà Thánh giao cho một chuyên gia để soạn thảo bản tường trình dài chính thức, để được Thánh
Bộ Phong Thánh sớm cứu xét, một bản tường trình rất thuận lợi.
Phải tin
rằng Thiên Chúa đã dành để cho thế hệ chúng ta được nhận thấy rõ ràng sự cao cả của vị
tử đạo tiên khởi của Việt Nam và dạy chúng ta phải học hỏi với Ngài. Ngài đã được
gọi để nên mẫu mực cho tất cả những ai ngày nay đang dấn thân vào công việc làm chứng cho Tin
Mừng, và cách riêng cho giới trẻ Công Giáo Việt Nam. Diễn tiến chậm trễ của hồ sơ
xin tôn vinh chân phước Thầy Anrê qua nhiều thế kỷ làm cho chúng ta tin rằng đó có thể là do
thánh ý của Thiên Chúa.
*
CON ĐƯỜNG CÒN LẠI PHẢI VƯỢT QUA
Tuy nhiên,
trước khi tôn vinh Thầy Anrê Phú Yên lên bàn thờ, còn một chặng đường nữa phải vượt qua, chắc
chắn là ngắn hơn chặng đường trước. Công trình nghiên cứu lịch sử thực hiện theo lời yêu cầu
của các giám mục Việt Nam sẽ được nghiên cứu và thẩm định bởi một uỷ ban sử gia do
Toà Thánh chỉ định. Bởi lẽ, Giáo Hội không muốn kể vào số các thánh, những người, dù cho xứng
đáng, một khi những hoàn cảnh (chẳng hạn như về mặt chính trị) của đời sống và của
cái chết của các vị này chưa được làm sáng tỏ.
Sau đó, một uỷ ban
các nhà thần học cũng do Toà Thánh chỉ định, sẽ xem xét giá trị làm chứng đức tin nơi cái chết
của Thầy Anrê, và sẽ phán quyết xem Thầy có thực sự là một vị tử đạo không, nghĩa là
một người bị xử tử do sự thù ghét đức tin và đã chấp nhận cái chết vì lòng
mến Chúa và yêu thương anh em mình.
Nếu sự phán quyết của
hai uỷ ban đầu thuận lợi thì đến lượt một uỷ ban thứ ba, gồm các hồng y, sẽ làm một phúc trình
cho Đức Giáo Hoàng về hoàn cảnh thích hợp để phong chân phước. Đức Giáo Hoàng sẽ lấy quyết
định tối hậu và tuyên bố Thầy Anrê là vị chân phước. Sau cuộc tôn vinh chân phước, nếu có được
một phép lạ nhờ sự cầu bầu của Thầy và được công nhận, thì Thầy Anrê có thể sẽ được đề nghị
trực tiếp tôn phong hiển thánh, như 117 vị tử đạo khác đã bước theo con đường của
Thầy.
Tất cả những cuộc vận động này có thể mất nhiều thời gian, thông thường
thì trong nhiều năm, bởi vì Giáo Hội làm nảy sinh nhiều hoa quả thánh thiện và hiện nay còn
nhiều trường hợp đang chờ đợi. Nhưng nếu Đức Giáo Hoàng muốn thì mọi việc có thể tiến hành mau
hơn. Chúng ta có quyền hy vọng Anrê sẽ được phong chân phước trong Năm Đại Toàn Xá
2000. Đó là điều đã được công khai bày tỏ trước phái đoàn các giám mục Việt Nam và cử toạ các
linh mục, tu sĩ nam nữ tại Rôma trong thánh lễ trọng thể ngày 26 tháng 4 năm
1998.
* MỘT SỰ KIỆN TRỌNG
ĐẠI CHO VIỆT NAM
Và đến đây, các giám
mục Việt Nam bắt đầu ước mơ. Đức Giáo Hoàng thích cử hành lễ phong chân phước tại
các nước mà ngài thăm viếng. Dù nếu ngài không thể thăm viếng Việt Nam trong tương lai gần,
thì chắc chắn ngài cũng có thể phái một Đặc Sứ đại diện cho ngài, để cho ngày đại lễ
mừng Anrê được cử hành hết sức trọng thể như mọi người mong ước, trong đất nước mà Thầy đã
sống, và ngay tại vùng đất mà Thầy đã hy sinh tính mạng, trước sự hiện diện đầy hân hoan của
đông đảo tín hữu Công Giáo Việt Nam.
Các giám mục Việt Nam, trong khi
chuẩn bị tham dự cuộc họp Thượng Hội Đồng về Châu Á, đã cầu xin cho Giáo Hội của các ngài quay
trở về nguồn. Điều này cũng có nghĩa là người ta phải học hỏi thời kỳ đầu tiên của việc rao
giảng Tin Mừng ở Việt Nam. Như vậy, việc phong chân phước cho Thầy Anrê sẽ đến đúng lúc : nó
sẽ tạo cơ hội cho mọi người nhận biết rõ ràng hơn những thế hệ đầu tiên của người Công Giáo
Việt Nam, và biết noi gương họ nhiều hơn.
Anrê chắc chắn sẽ gây được nguồn
cảm hứng cho đồng bào của mình về một sự đổi mới thật sự trong đời sống tâm linh và
sự can đảm trong việc làm chứng nhân trong những tình huống khó khăn mà họ đang trải
qua. Khi thầy giảng trẻ tuổi này hy sinh mạng sống tại Quảng Nam, thì đời sống Công
Giáo còn khó khăn hơn nhiều. Nhưng Thầy đã biết đi cho đến cùng theo sự xác tín của
mình, trong niềm hân hoan và sự can đảm. Thầy là người anh cả của mọi người. Ngay từ bây giờ,
chúng ta hãy cung kính dành cho Thầy một chỗ xứng đáng trong trái tim của chúng ta, và đừng
ngại kêu cầu với Thầy như là vị bổn mạng của chúng ta.
Linh Mục Dương Hữu Nhân, O.M.I.
Á THÁNH ANRÊ PHÚ YÊN
“Người
Chứng Thứ Nhất”
(1625 -
1644)
Cosma Hoàng Văn Đạt,
S.J.
“Người chứng
thứ nhất” là tiếng Cha Đắc Lộ dùng để chỉ Á Thánh Anrê Phú Yên. Thực ra, cũng theo cha Đắc Lộ,
một giáo dân ở Thăng Long, tên thánh là Phanxicô, chết vì đức tin năm 1630, mới là vị tử đạo
tiên khởi, nhưng vị này không bị kết án chính thức.
Ai cũng nghĩ cứ sự
thường, Anrê Phú Yên phải được tuyên thánh trước nhất, hay ít ra là cùng với những vị trong
đợt đầu tiên. Nhưng năm 1988, khi Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tuyên thánh cho 117 vị tử đạo
Việt Nam, nhiều người ngạc nhiên khi không thấy có thầy giảng Anrê Phú Yên. Thực ra lúc ấy,
ngài chưa đưọc tuyên phong Á Thánh ! Năm 1994, nhân kỷ niệm 350 năm ngài tử đạo, khoảng 1500
giáo lý viên của các giáo xứ thuộc giáo phận TP. Hồ Chí Minh họp mặt tại nhà thờ Đức Bà Sài
Gòn đã ký tên vào đơn xin tuyên phong Á Thánh cho ngài. Ngày 5-3-2000, ngài được Đức Thánh Cha
Gioan Phaolô II tuyên phong Á Thánh tại Roma, thoả lòng mong ước của bao tín hữu Việt Nam,
nhất là giáo phận Đà Nẵng, giáo phận Quy Nhơn, Dòng Tên Việt Nam và các giáo lý viên trong cả
nuớc.
I. THEO
CHÚA
Nếu theo Quốc Lộ 1A từ Bắc vào Nam
đến cây số 1300, chúng ta sẽ gặp cầu Ngân Sơn bắc qua sông Kỳ Lộ, dân địa phương gọi là sông
Cái. Sông này bắt nguồn từ núi Kong K’Dung, cao 1029m, trên cao nguyên Gia Lai ở phía Tây Bắc,
và chảy ra Biển Đông ở cửa Tiên Châu trong vịnh Xuân Đài. Qua cầu Ngân Sơn, chúng ta đến thị
trấn Chí Thạnh, huyện lỵ của huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Từ Chí Thạnh, men theo con đường dọc
hữu ngạn về phía hạ lưu chừng 4km, chúng ta đến nhà thờ Mằng Lăng. Đi thêm chừng 1km nữa,
chúng ta đến một địa điểm dân địa phương gọi là Thành Cũ.
Vào thời của Á Thánh
Anrê Phú Yên, đây chính là địa điểm của Dinh Trấn Biên. Nếu đi thêm khoảng 3-4km nữa, chúng ta
sẽ đến cửa biển Tiên Châu nước yên tĩnh và trong vắt. Hiện nay khu vực này là một vùng nông
thôn hiền hoà đầy màu xanh, dân chúng làm ruộng, đánh cá trên sông Kỳ Lộ và vịnh Xuân Đài,
kiếm củi đốt than trên hai ngọn núi nhỏ Sơn Chà và A Mang. Nhưng vào thời của Á Thánh Anrê Phú
Yên, đây là dinh trấn tiền đồn của Chúa Nguyễn đối mặt trực tiếp với vương quốc Chiêm Thành ở
bên kia đèo Cả. Có lẽ mọi sự đã được tính toán rất kỹ để Dinh Trấn Biên được đặt tại nơi ngày
nay gọi là Thành Cũ : biển, sông, núi, ruộng, đường bộ, đèo Cả ở phía Nam, đèo Cù Mông ở phía
Bắc ...
Năm 1470, sau khi đuổi người Chăm qua phía Nam đèo Cả, vua Lê Thánh Tông
đến núi Đá Bia ở đèo Cả, cách Thành Cũ chừng 60 km về phía Nam, đánh dấu ranh giới phía Nam
của nước Đại Việt. Bên kia đèo Cả là nước Chiêm Thành còn lại của người Chăm. Cho đến thời của
Á Thánh Anrê Phú Yên, nghĩa là gần 200 năm sau, ranh giới này vẫn giữ nguyên. Tuy nhiên việc
khai phá chỉ tiến triển từng bước. Năm 1570, Nguyễn Hoàng được đặt làm Tổng Trấn Thuận Hoá và
Quảng Nam, nhưng thực tế, ông chỉ cai trị đến đèo Cù Mông, tức là hết tỉnh Bình Định hiện nay,
chưa đến Phú Yên. Năm 1578 ông cho đưa dân đến Phú Yên. Năm 1629 ông cho lập Dinh Trấn Biên ở
Phú Yên. Vết tích Chăm ngày nay vẫn còn khá nhiều ở Phú Yên : Tháp
Nhạn ở thị xã Tuy Hoà, nhiều mộ người Chăm mà dân chúng địa phương gọi
là mả Hời, một số tên riêng như sông Đà
Rằng, núi A Mang ...
Có thể nói,
giả sử không có cha Đắc Lộ thì cũng không có Á Thánh Anrê Phú Yên. Cha Đắc Lộ sinh năm 1593
tại Avignon, lúc ấy là lãnh địa thuộc quyền Toà Thánh trên đất Pháp. Năm 1612 cha vào Dòng Tên
với ước nguyện được đi truyền giáo ở Viễn Đông. Sau khi thụ phong linh mục năm 1618, cha được
chỉ định đi Nhật Bản. Để chuẩn bị, cha đến Áo Môn ở Trung Hoa để học tiếng Nhật. Nhưng lúc ấy
chính quyền Nhật Bản cấm đạo gắt gao, trong khi công cuộc truyền giáo ở Việt Nam
đang tiến triển tốt đẹp, vì thế cha được phái đến Việt Nam lần đầu năm 1624. Cha học tiếng
Việt tại Hội An và chỉ trong một thời gian ngắn đã nghe và nói được thông
thạo.
Vào thời ấy Việt Nam bị phân chia thành 2 miền,
lấy sông Gianh ở Quảng Bình làm ranh giới : miền Bắc được nhân dân gọi là Đàng Ngoài do chúa
Trịnh cai trị, miền Nam là Đàng Trong do chúa Nguyễn. Vua Lê ở Thăng Long chỉ có hư vị. Đàng
Trong lúc bấy giờ được chia thành 4 trấn : Bố Chính (Quảng Bình), Thuận Hoá (Quảng Trị và Thừa
Thiên-Huế), Quảng Nam (bao gồm cả hai phủ Quảng Ngãi và Quy Nhơn) và Phú Yên. Đứng đầu mỗi
trấn là vị trấn thủ thường là con trai hay con rể chúa Nguyễn, trừ trấn Thuận Hoá gọi là dinh
chính do chúa Nguyễn đích thân chỉ huy.
Có thời gian một mình
cha Đắc Lộ là linh mục tung hoành hoạt động truyền giáo tại Đàng Trong :
“Không bao giờ tôi thấy Thiên Chúa phù hộ rõ rệt hơn. Chỉ mình tôi là linh mục trong lãnh thổ
rộng lớn (Đàng Trong) và tôi nói thật rằng, xứ đạo của tôi ít ra cũng rộng tới 120 dặm. Thế
nhưng trong vòng 2 năm tôi đi thăm được tất cả không bỏ sót một nơi nào tôi biết, cần bao lâu
thì tôi ở bấy lâu để giúp đỡ các linh hồn. Tôi nói thật, hai năm đó như là một Tuần Thánh liên
tục : ở đâu tôi cũng phải làm những việc mà ở Âu Châu người ta làm trong Tuần
Thánh”. Riêng về “ba tỉnh phía Nam” tức là Quảng Ngãi, Bình Định và Phú
Yên, cha kể : “Cả ba tỉnh này đều rất đẹp, có nhiều cửa biển và sông lớn rất
thuận tiện cho việc thông thương đi lại. Về phía tỉnh Phú Yên, chúa Nguyễn có nhiều thuyền
chiến để chống xâm lăng... ở ngay biên giới. Ngoài ra chính ở đây có thổ sản rất quý là trầm
hương và tổ yến”. Về hoạt động tông đồ, cha kể : “Tôi bỏ
ra 6 tháng để đi một vòng cả ba tỉnh, lúc thì đi đường biển, lúc thì đi đường sông, gặp nhiều
nguy hiểm. Mà đi đường bộ cũng khó khăn và vất vả không kém. Nhưng Chúa nhân lành hằng ở cạnh
tôi và cứu tôi ở hết mọi nơi mọi chốn”.
Vị thừa sai đầu tiên
đặt chân đến Phú Yên năm 1624 chính là cha Phanxicô Buzomi. Có thể lúc ấy đã có một số giáo
dân đến đó lập nghiệp trong đà nam tiến của dân tộc. Cũng có thể lúc ấy ngài rửa tội thêm một
số tân tòng. Năm 1641 cha Đắc Lộ đến Phú Yên lần đầu. Dịp này một thiếu niên 16 tuổi đã tìm
đến xin được rửa tội và được cha rửa tội cho. Lễ rửa tội cho chừng 90 người được cử hành
khoảng tháng 5 tại tư dinh công chúa Ngọc Liên, người đã theo đạo từ trước với tên thánh là
Maria Madalena, và lúc ấy là vợ của tướng Nguyễn Phúc Vinh, quan trấn thủ Phú Yên. Khi được
rửa tội, thiếu niên ấy mang tên thánh Anrê. Sau này cha Đắc Lộ chỉ gọi bằng tên ấy, nên chúng
ta không biết tên thật của ngài. Có lẽ ở nhà ngài được gọi bằng “Út” theo thói quen địa
phương. Còn tên chính thức của ngài trong sổ sách thì cho đến nay vẫn chưa ai tìm được. Lúc ấy
Anrê chỉ là một chú bé giữa bao người khác, chưa có gì nổi bật khiến cha Đắc Lộ phải nhắc
đến.
Cha Đắc Lộ phấn khởi : “Năm 1625 đạo Chúa Kitô đưọc
truyền bá khắp nơi ở Đàng Trong. Chúng tôi có 10 tu sĩ chuyên cần hoạt động và công việc không
gặp cản trở”. Đó chính là năm Anrê chào đời. Ngài là con út trong gia đình
đông anh chị em, có lẽ cha mất sớm, mẹ là bà Gioanna, một phụ nữ đảm đang và được cha Đắc Lộ
gọi là “rất nhiệt thành”. Bà chăm lo nuôi nấng dạy dỗ đàn
con nói chung, rất chăm sóc việc giáo dục cho Anrê nói riêng, cả về đường đức hạnh cũng như
học vấn. Bà “đã lo cho Anrê ngày từ những năm đầu được học chữ nghĩa, kinh
sử”. Điều này chúng ta sẽ thấy rõ hơn khi ngài học với thầy Inhaxu. Ngoài
ra, hầu như chúng ta không biết gì hơn về tuổi nhỏ của ngài. Có lẽ ngài cũng lên núi Sơn Chà
kiếm củi hoặc ra ruộng cày cấy phụ giúp cha mẹ như bao thiếu niên đồng trang lứa. Đặc biệt sau
này cha Đắc Lộ cho biết ngài chèo thuyền rất giỏi. Hẳn là ngài đã được tập luyện khi điều
khiển những chiếc “xổng”, tức là thuyền nhỏ làm bằng tre trên sông Cái. Vì mẹ ngài rất đạo đức
nên chắc chắn gia đình phải đọc kinh cầu nguyện hằng ngày. Chẳng những vậy, có thể ngài còn
được mẹ dạy những điều cơ bản về đạo nữa. Tóm lại ngài là mảnh đất tốt, chỉ chờ cha Đắc Lộ đến
gieo hạt giống thiêng liêng vào là nảy mầm để rồi sinh hoa kết quả dồi
dào.
Có lẽ gia đình bà Gioanna đã cùng với một số gia đình khác chuyển đến Phú
Yên từ trước đó khá lâu. Cha Đắc Lộ cho biết là cha mẹ Anrê đều có đạo. Có thể vì ở quê mới
không có nhà thờ, không có linh mục, không có ai dạy dỗ, nên phải chờ tới khi cha Đắc Lộ đến,
Anrê mới được rửa tội. Có thể xác định, theo chứng từ có được, gia đình ngài ở xóm Lò Giấy,
cách nhà thờ Mằng Lăng hiện nay khoảng 3km về phía Tây Bắc, bên kia sông, là xóm đạo đầu tiên
ở Phú Yên. Như vậy, có thể Anrê ở xóm này. Hiện nay xóm Lò Giấy chỉ còn lại vài gia đình Công
Giáo. Ngôi nhà thờ làng, không biết được dựng từ khi nào, nay không còn dấu vết gì khác ngoài
nền lát gạch dùng làm sân phơi lúa.
Chuyến thăm Phú Yên lần đầu của
cha Đắc Lộ thành công rực rỗ. Cha cho biết : “Khi tôi ngồi toà thì các kẻ giảng làm phận sự dạy người tân tòng. Tôi cũng tìm
thời giờ để giảng mỗi ngày 2 lần. Lương dân kéo đến lũ lượt và Thiên Chúa phán trong lòng họ.
Số người chịu phép rửa tội nhiều khi quá đông không làm trong nhà thờ được, mặc dù nhà thờ khá
rộng lớn, đành phải dạy dỗ và rửa tội cho họ ở sân lớn trước cửa nhà thờ. Thế mà trong công
việc này, tôi không cảm thấy mệt mỏi, không ngã bệnh. Tôi vui sướng đến nỗi không biết tôi còn
ở dưới đất hay là đã lên trời”. Dù vậy chỉ ở Đàng Trong được 7
tháng, cha buộc phải rời Việt nam theo lệnh quan trấn thủ Quảng Nam.
II.
DÂNG MÌNH CHO CHÚA
Chỉ mấy tháng sau, vào đầu năm 1642, cha Đắc Lộ lại
quay về với đoàn chiên Đàng Trong. Lần này Anrê đến xin theo cha và được
nhập Hội Thầy Giảng.
Khi chính thức khởi
sự công cuộc truyền giáo ở Việt Nam năm 1615, các cha Dòng Tên đặt trụ sở tại Hội An, nơi có
thương cảng quốc tế, có nhiều người Nhật Bản và Bồ Đào Nha đến làm ăn buôn bán. Cha Phanxicô
Buzomi mà cha Đắc Lộ kính cẩn gọi là “vị tông đồ Đàng Trong” ngay từ đầu đã
mời gọi và huấn luyện một số giáo dân làm kẻ giảng tức
là giáo lý viên, để cộng tác với các thừa sai trong hoạt động tông
đồ.
Khi hoạt động truyền giáo ở Đàng Ngoài, từ 1627 đến 1630, cha Đắc Lộ đi
xa hơn một bước nữa : lập Hội Thầy Giảng. Chẳng những các giáo lý
viên họp thành một cộng đoàn mà mỗi người
còn tuyên khấn nữa. Cha Đắc Lộ kể
: “Trước mặt giáo đoàn, trong thánh lễ, họ đã thề suốt đời phụng sự Hội
Thánh, không lập gia đình và vâng lời các Cha Dòng đến giảng Tin Mừng. Thấy nghi lễ long trọng
này, mọi giáo dân đều phấn khởi và trọng kính các tôi tớ Chúa. Còn họ, thực sự họ làm trọn sứ
mạng rất xứng đáng. Phần lớn thành quả thâu lượm được ở xứ này là nhờ
họ”. Nhờ đó khi có các thừa sai, các thầy giúp các cha. Đặc biệt khi không
có các thừa sai, các thầy điều hành cộng đoàn tín hữu trong khi vẫn tiếp tục hoạt động truyền
giáo cho những người chưa tin Chúa. Rút kinh nghiệm ở Đàng Ngoài, khi trở lại Đàng Trong, cha
cũng thành lập Hội Thầy Giảng. Hẳn là qua đời sống và hoạt động của cha Đắc Lộ nói riêng và
các kẻ giảng nói chung, người con út của bà Gioanna nhiệt thành đã nghe được tiếng gọi thầm
kín nhưng mãnh liệt của Chúa Giêsu : “Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho con trở
thành kẻ lưới người”.
Theo cha Đắc lộ thì Anrê lúc ấy là
một thiếu niên không được khoẻ mạnh lắm, đã biết chữ khá, chắc là chữ Nôm, khéo tay, thông
minh, khôn ngoan và rất nhiệt thành. Tuy nhiên chú bé này còn trẻ quá. Thầy giảng Inhaxu đã
trên 30 tuổi, đã từng là quan ở triều đình, trong khi Anrê mới 17 tuổi, học hành chưa đến đâu,
còn non nớt quá. Cha Đắc Lộ từ chối nhưng chú bé ở vào “tuổi bẻ gãy sừng trâu” ấy không chịu
đầu hàng. Mẹ ngài là bà Gioanna - mà cha Đắc Lộ rất quý mến - đến xin cho con. Thế là ngài
được nhận rồi theo cha Đắc Lộ và các thầy giảng khác đi Hội An, trụ sở của đoàn truyền
giáo.
Hội Thầy Giảng Đàng Trong lúc ấy có 10 anh em do thầy Inhaxu đứng đầu.
Cha Đắc Lộ kể về thầy Inhaxu : “...con nhà sang trọng, từng là thẩm phán,
thông minh, rất giỏi chữ Nho, nhất là rất đạo đức, một vị thánh đích thực, gốc ở miền Bắc, sau
khi chịu phép rửa tội thì không muốn rời tôi, và thực ra tôi gặp được Inhaxu thì không lấy gì
làm sung sướng hơn”. Như vậy là sau khi theo đạo, thầy Inhaxu bỏ cả đường công danh
đang rộng mở để theo cha Đắc Lộ làm kẻ giảng. Anrê được giao cho thầy để học văn chương. Có lẽ
là học chữ Nho và Tứ Thư Ngũ Kinh của Trung Hoa. Anrê học hành có kết quả đến nỗi thầy Inhaxu
nói với cha Đắc Lộ : “Trong tất cả các môn sinh, không một người nào đọ kịp
trí tuệ của Anrê : linh lợi thông minh, học đâu hiểu đó”.
Chính cha
Đắc lộ kể khá nhiều điều về giai đoạn này của Anrê : “Người anh không khoẻ
mạnh lắm, thế mà việc khó mấy trong nhà anh cũng làm luôn, nhiều khi lại làm quá sức, anh quên
mình để giúp kẻ khác... Anrê ở nhà tôi chỉ ít lâu, nhân đức trong linh hồn anh đã biểu lộ ra
ngoài. Anh sống giữa chúng tôi như một vị thánh nhỏ. Anh có tư thái hiền hậu, đức vâng lời mau
lẹ, rất kính trọng mọi người khiến ai cũng đều cảm phục... Anh coi mình như kém hết mọi người
và không có gì làm cho anh bằng lòng hơn là được dịp phục vụ người
khác”. Ngoài ra, cha cũng cho biết là ngài khéo tay và chèo thuyền rất
giỏi.
Năm 1643, lễ thánh Inhã, tổ phụ Dòng Tên, được tổ chức long trọng tại nhà
thờ Hội An. Cha Đắc Lộ đã nhận được lệnh trục xuất. Không thể bỏ một đoàn chiên bơ vơ. Trong
thánh lễ, tất cả 10 anh em, kể cả Anrê lúc ấy 18 tuổi, tay cầm nến sáng, quỳ trước bàn
thờ, “tuyên thệ suốt đời phục vụ Hội Thánh, không bao giờ lấy vợ, và sẽ vâng
lời các cha Dòng Tên đến giảng đạo trong nước hoặc những vị thay mặt các
cha”. Chính các kẻ giảng sẽ thay mặt cha, vừa thăm viếng các cộng đoàn, vừa
truyền giáo cho những người chưa tin Chúa.
Cha Đắc Lộ cho biết :
“Từ ngày khấn, Anrê tự cho mình có bổn phận sống trọn lành hơn khi trước nhiều lắm.
Sự thật thì suốt năm ấy chính là năm cuối đời, anh tiến rất cao trên đường thực hành mọi nhân
đức, khiến chúng tôi chẳng hiểu ý Chúa dự định về anh như thế nào,
nhưng chúng tôi biết rõ những tác động ấy của ơn thánh sủng chẳng
phải là sự thường”.
Sau đó, cha Đắc Lộ cho một mình
thầy Inhaxu mặc áo dòng và được gọi là thầy. Ngài chia 10 anh em làm hai nhóm : một nhóm do
thầy Inhaxu cầm đầu đi hoạt động ở ba tỉnh phía Bắc là Bố Chính (Quảng Bình), Thuận Hoá (Quảng
Trị và Thừa Thiên-Huế), Quảng Nam (Đà Nẵng và Quảng Nam) ; một nhóm do anh Đamasô cầm đầu đi
hoạt động ở ba tỉnh phía Nam là Quảng Ngãi, Quy Nhơn (Bình Định) và Phú Yên. Anrê ở nhóm
trước. Cha Đắc Lộ cho biết : “Tôi trở về Áo Môn vào tháng 9-1643, còn họ
trung thành làm tròn nhiệm vụ tôi uỷ thác cho. Thoạt đầu tất cả 10 người cùng nhau ở lại một
tháng trong nhà chúng tôi ở Đà Nẵng, mà vì nhà cửa đã bị lương dân phá huỷ bình địa nên phải
làm lại. Trong dịp ấy, có mấy người yếu hơn ngã bệnh. Anrê người rất hăng hái nhưng sức yếu
nên cũng ngã bệnh. Inhaxu làm bề trên nhưng lại làm đầy tớ tất cả, đêm ngày săn sóc mọi người,
không quản khó nhọc và không ngại việc hèn mọn để chữa chạy cho các tôi tớ tốt lành của vị
Thầy độc nhất là Đức Kitô”. Khi khỏi bệnh, họ chia tay đi các nơi như cha
Đắc Lộ đã chỉ định. Cả hai nhóm đều thu được những kết quả tông đồ đáng khích lệ. Năm anh em
đi về phía nam hoạt động rất đắc lực : trong 2 tháng đã rửa tội được 293 tân tòng. Riêng nhóm
bắc, chỉ trong ít ngày mà đã rửa tội được 303 người. Anrê làm gì ? Cha Đắc Lộ kể
: “Anrê giảng đạo cho người ngoại giáo, dạy dỗ kẻ tân tòng, dọn dẹp nhà thờ
rất sạch sẽ, trang hoàng nhà thờ những ngày lễ lớn quanh năm, khéo léo đến nỗi làm cho bổn đạo
tăng thêm lòng sốt sắng và cả người ngoại giáo cũng phải trọng kính mầu nhiệm của
Đạo”. Vào Lễ Giáng Sinh năm 1643, tại Thuận Hoá, Anrê vốn khéo tay, đã dựng
một hang đá rất đẹp, có tượng Chúa Hài Đồng, Đức Mẹ và thánh Giuse. Hai
nhóm “đi khắp các tỉnh, các làng, các xã ở Đàng Trong. Thiên Chúa phù hộ,
ban ơn, giúp đỡ chúng tôi, nên số giáo dân trong một thời gian ngắn đã thêm được hơn 1.000
người”. Đã diễn ra những cuộc bách hại lẻ tẻ, nhưng giáo dân vẫn vững vàng.
Điều này cho thấy các kẻ giảng đã thực sự là nhóm lãnh đạo và chứng nhân kiên
cường.
Như thế, có thể nói, cuộc đời tận hiến và hoạt động tông đồ đã thu hút
toàn bộ trái tim, khối óc và sức lực của người thiếu niên tưởng chừng còn rất non nớt. Và ngài
cũng chứng tỏ là một tông đồ đầy triển vọng : mới 19 tuổi, và mới theo đoàn truyền giáo được
hai năm, mà đã biết chèo thuyền, biết làm hang đá, biết giảng giáo lý, có học hành, rất đạo
đức, ham làm việc, dám xông pha khắp nơi, không ngại khó khăn và nguy hiểm. Giả như mọi sự
diễn tiến bình thường, biết đâu ngài sẽ chẳng trở thành người kế thừa xứng đáng vị tông đồ
thời danh Đắc Lộ !
III. LỄ TOÀN THIÊU
“Nếu thế gian ghét anh em, hãy nhớ là nó đã ghét Thầy
trước” (Ga 15,18), Chúa Giêsu đã nói như vậy với các môn đệ. Qua dòng
thời gian, bao giờ và ở đâu cũng vậy, các tín hữu được nhiều người thương mến nhưng cũng bị
một số thù ghét.
Kẻ thù số một của các tín hữu Đàng Trong thời đó là
bà vương phi Tống Thị Toại, một phụ nữ rất có thế lực ở phủ chúa.
Bà nguyên là vợ thứ của thế tử Nguyễn Phúc Kỳ, trấn thủ Quảng Nam. Lẽ ra thế tử Kỳ lên kế vị
chúa Sãi (1614-1635), nhưng lại qua đời năm 1631, trước chúa Sãi 4 năm. Vương tử Lan, em kế
thế tử Kỳ, lên ngôi kế vị, tức Công Thượng
Vươnghay chúa Thượng. Bà Toại ra vào phủ chúa tự do và
ăn ở với chúa Thượng như vợ chồng. Chuyện loạn luân này làm cho nhiều người phẫn nộ. Con thứ
tư của chúa Sãi là vương tử Trung đã có ý định quét sạch hai kẻ loạn luân khỏi phủ chúa, nhưng
việc không thành. Phần nào giống thánh Gioan Tẩy Giả trong Tin Mừng, thầy Inhaxu đã phê phán
người phụ nữ tội lỗi ấy và bị bà căm ghét nên tìm dịp trả thù. Bà rất sợ các thừa sai làm cho
chúa Thượng theo đạo, vì lúc ấy bà sẽ mất hết. Bà tìm được một người đồng loã
là ông Nghè Bộ ở Quảng Nam. “Ông Nghè Bộ” thật ra không
phải là một tên riêng, nhưng là tiếng dân chúng thường dùng để chỉ viên cai
bạ, hay cai bộ, tức là người đứng đầu ngành tài
chính và thuế khoá ở một trấn. Thực ra, chức năng của viên quan này không liên hệ gì đến vấn
đề tôn giáo, nhưng vốn đã ghét đạo, lại muốn nhờ cậy bà Toại, nên sẵn lòng làm tay sai cho
người phụ nữ nhiều thế lực.
Những dấu hiệu đầu tiên bộc lộ từ
năm 1639. Ông Nghè Bộ xin chúa Thượng trục xuất các thừa sai, vì các cha cho giáo dân tôn thờ
ảnh Thánh Giá chứ không sùng bái chư thần trong đất nước. Ông cho người đến cướp một ảnh Thánh
Giá rất đẹp các cha vẫn giữ để thờ. Họ đem tới trình chúa và bày ra trăm mưu ngàn chước để làm
cho chúa hoảng sợ. Chúa liền truyền cho đốt ảnh đi và đe doạ “người nào còn
đưa vào đất nước này những vật khả ố đó thì hãy coi chừng mạng
sống...” Người Bồ Đào Nha chuộc được Thánh Giá nhưng các cha bị trục xuất.
Chính vì vậy, có thời gian cha Đắc Lộ và các thầy giảng phải hoạt động lén lút chứ không dám
xuất đầu lộ diện.
Ngày 25-7-1644, Á Thánh Anrê bị bắt. Thực ra, người bà
Toại nhắm đến là thầy Inhaxu, vừa nổi tiếng, vừa có ảnh hưởng lớn. Ông Nghè Bộ cho lính xông
vào nhà các cha Dòng Tên ở Hội An để bắt thầy. Không tìm được thầy, lính đập phá nhà cửa, ảnh
tượng. Hôm ấy, Anrê ở nhà coi sóc 4 anh em đang đau bệnh, trong khi cha Đắc Lộ và các anh em
khác đi làm việc tông đồ. Muốn ngăn cản lính ngừng tay đập phá bừa bãi, ngài nói với họ
: “Nếu các ông muốn bắt thầy Inhaxu thì vô ích, vì thầy không có ở nhà. Còn
muốn bắt tôi thì rất dễ dàng : tôi là giáo hữu, hơn nữa cũng là kẻ giảng. Tôi có cả hai tội mà
các ông khép cho thầy Inhaxu để bắt thầy ấy. Nếu thầy ấy có tội thì làm sao tôi lại vô tội
được ?”. Thế là họ bắt và trói ngài. Lính định bắt cả mấy thầy đang đau ốm,
nhưng ngài cương quyết phản đối, nên họ thôi. Nhưng họ vẫn tiếp tục đập phá ảnh tượng đạo.
Ngài đề nghị được cởi trói để xếp ảnh tượng lại cho dễ mang đi, họ cũng chấp thuận. Sau đó, họ
trói ngài lại và dẫn về giam ở dinh trấn Quảng Nam trong huyện Điện Bàn ngày nay. Cha Đắc Lộ
kể : “Anrê vui vẻ theo họ và trên suốt quãng đường không ngừng giảng cho
những người dẫn mình vào ngục biết đường tránh địa ngục và lên thiên
đàng”.
Trước đó, lính cũng đã bắt một giáo dân 73 tuổi là ông
Anrê Sơn. Hai Anrê cùng thức suốt đêm cầu nguyện và khích lệ nhau. Sáng hôm sau, quan trấn thủ
đưa cả hai ra xét xử và kết án tử hình cả hai. Nghe tin ấy, cha Đắc Lộ vận động người Bồ Đào
Nha đến xin quan rút lại bản án. Cha kể : “Ông bằng lòng tha cho cụ già, vì
còn con cháu ; nhưng về người thanh niên trai tráng xưng mình là giáo hữu và dù có chết cũng
không bỏ danh hiệu ấy, thì sẽ phải chết như đã xin, để dạy cho mọi người biết vâng lệnh
chúa”.
Nhiều giáo dân Việt Nam cũng như Bồø Đào Nha đến quỳ
dưới chân ngài vừa hôn vừa khóc ròng, xin ngài về thiên đàng nhớ cầu nguyện cho mình. Ngài đáp
lại : “Tôi là kẻ rất có tội”. Rồi ngài khích lệ họ
: “Hỡi anh em, đối với Chúa Giêsu yêu dấu của chúng ta, chúng ta hãy lấy
tình yêu đáp lại tình yêu. Chúa đã chịu chết đau khổ vì chúng ta, nên chúng ta hãy lấy mạng
sống đáp đền mạng sống... Anh chị em thấy rõ tôi đây bị bắt và sắp phải chết, chẳng phải vì ăn
cướp, giết người hay làm thiệt hại ai, mà chỉ vì tôi đã nhìn nhận Chúa Tể Trời Đất và Con Một
Người xuống thế chịu chết chuộc tội cho chúng ta. Mọi sự chúng ta có đều do nơi Người. Thế mà
người ta lại muốn tôi xúc phạm đến Người. Tôi chẳng sợ bất cứ hình phạt nào người ta có thể
bắt tôi phải chịu, tôi chỉ sợ lửa hoả ngục đời đời là hình phạt dành cho kẻ từ chối không tin
thờ Chúa Giêsu Kitô là Đức Chúa Trời thật. Hỡi anh chị em, hãy coi chừng, đừng từ chối ơn Đức
Chúa Trời muốn ban cho anh chị em, phải liệu sao cho khỏi bị xử phạt đời
đời”.
Cũng cha Đắc Lộ cho biết : “Sau khi
bị kết án tử hình, Anrê hớn hở lạ lùng... Anh xưng tội, quỳ xuống cầu nguyện, vĩnh biệt mọi
người, rồi nhanh nhẹn theo toán lính dẫn anh tới thửa ruộng cách thành chừng nửa
dặm”. Thành đây là thành Thanh Chiêm, trong huyện Điện Bàn, nơi có dinh
trấn thủ ở khoảng km 952 trên quốc lộ 1A hiện nay. Còn thửa ruộng ấy được dân chúng gọi
là Gò Xử, nay nói trại đi thành Gò Sứ,
ở địa điểm gọi là Chợ Củi, cách thành chừng 1km, theo cách nói của cha Đắc Lộ là 2000
bước.
Trên đường ra pháp trường, ngài khích lệ các tín hữu theo ngài
: “Hỡi anh chị em, hãy giữ nghĩa cùng Chúa Giêsu cho đến chết. Không một
điều gì có thể dập tắt lòng kính mến Chúa Giêsu trong trái tim chúng
ta”.
Cha Đắc Lộ kể tiếp : “Tôi hằng ở bên
anh, và tôi không theo kịp, vì anh đi rất nhanh, mặc dù phải mang gông nặng. Tới địa điểm
chiến thắng, anh quỳ xuống để chiến đấu cho can đảm hơn. Lính gác bao quanh anh. Họ không cho
tôi ở bên trong vòng lính, nhưng viên đội trưởng cho phép tôi vào và đứng cạnh anh. Anh vẫn
quỳ dưới đất, mắt nhìn trời, miệng luôn hé mở và kêu tên Chúa Giêsu. Một người lính lấy giáo
đâm anh từ phía lưng thâu qua ngực chừng hai bàn tay. Lúc đó Anrê nhìn tôi âu yếm như thể vĩnh
biệt tôi. Tôi bảo anh hãy nhìn lên trời, nơi anh sắp tới và có Chúa Giêsu chờ đón anh. Anh ngước mắt lên trời cao và không nhìn
xuống nữa. Cũng tên lính rút giáo ra đâm lần thứ hai, rồi lại đâm lần nữa như thể đi tìm trái
tim anh. Nhưng con người vô tội ấy vẫn không lay chuyển, thật là kỳ diệu. Sau cùng, một người
lính khác thấy lưỡi giáo không làm cho anh ngã xuống đất, liền lấy mã tấu chém cổ. Nhưng một
nhát vẫn chưa xong, phải thêm nhát nữa làm đứt hẳn cổ, đầu rơi về bên tay phải, chỉ còn vướng
mảnh da. Nhưng tôi nghe rất rõ, cùng lúc đầu lìa khỏi cổ thì Thánh Danh Chúa Giêsu không phải
từ miệng anh thốt ra, mà qua vết chém ở cổ. Và cùng lúc hồn anh bay về
trời thì xác anh ngã xuống đất”.
Sau đó cha Đắc Lộ gửi phần thân vị
tử đạo sang Áo Môn để lưu giữ cùng với hài cốt các vị tử đạo Nhật Bản. Không may một lần kia,
nhà lưu giữ bị cháy, mặc dù hài cốt các vị tử đạo không bị thiêu huỷ, nhưng bị lẫn lộn không
phân biệt được nữa. Riêng đầu của vị tử đạo, cha Đắc Lộ luôn đem theo bên mình, và khi đến
Roma, đã đặt chung vào nhà lưu trữ hài cốt các vị tử đạo Dòng Tên ở trụ sở trung ương Dòng,
ngày nay vẫn còn nguyên vẹn.
Vậy là ngài đã trở thành người của Hội Thánh, của nhân
loại : một người con dân Việt Nam mà đầu ở Châu Âu, mình ở Châu Á. Cha Đắc Lộ kể nhiều điều về
cha gọi là phép lạ sau cuộc tử đạo của ngài cũng như trong hành trình đưa di hài đến Áo Môn và
đến Roma. Tuy nhiên, có lẽ “phép lạ” lớn nhất chính là chỉ trong ba năm, một thiếu niên vô
danh đã trở thành một môn đệ tuyệt vời và một chứng nhân anh dũng của Chúa
Giêsu.
Xưa, trên đà nam tiến của dân tộc Việt Nam, Á Thánh Anrê Phú Yên đã mở ra
một chiều kích mới cho cả dân tộc là tiến đến với Thiên Chúa. Đúng một năm sau, hai thầy giảng
Inhaxu và Vinxentê cũng lãnh triều thiên tử đạo. Rồi đoàn chứng nhân hơn một trăm ngàn vị tử
đạo trong những thế kỷ tiếp theo. Nay, trên đà phát triển kinh tế và văn hoá, có thể dân tộc
Việt Nam cũng như cả loài người vẫn chờ mong những Anrê Phú Yên mới, những con người chân đứng
trên mặt đất, mắt hướng lên trời cao, Thánh Danh Chúa Giêsu trào dâng từ những trái tim vừa
trong sáng, vừa nồng hậu. Với dáng dấp nhỏ nhắn nhưng rắn rỏi, như chính Hội Thánh và dân tộc
Việt Nam hôm nay, mặc dù đi trước về sau, ngài mãi mãi là “người
chứng thứ nhất”, một tín hữu Việt Nam tiêu biểu mà chúng ta ước mong là
Chúa Giêsu cũng như nhân loại có thể tìm lại được trong hàng triệu cháu con của dòng giống Lạc
Hồng hôm nay.
Hiển Linh, 19-2-2000
Cosma Hoàng Văn Đạt, S.J.
Đôi điều về
Chân Phước Anrê Phú
Yên
Minh
Đạo
Những sử
liệu quý giá còn lại cho chúng ta biết Chân Phước Anrê Phú Yên được sinh ra tại vùng đất nay
thuộc giáo xứ Mằng Lăng, tỉnh Phú Yên, giáo phận Quy Nhơn và chịu tử đạo tại vùng đất thuộc
giáo xứ Vĩnh Điện, tỉnh Quảng Nam, giáo phận Đà Nẵng.
ĐỊA DANH MẰNG LĂNG
Tương truyền, xưa kia nơi này được gọi là truông Mằng Lăng, một nẻo đi
gợi hình ảnh u tịch, rậm rạp cây cối. Mằng Lăng là tên của loài cây lớn, mọc nhiều ở đó. Không
rõ Mằng Lăng có thuộc họ Bằng Lăng, một loại cây to, tán dày, lá hình bầu dục, hoa mọc thành
cụm đầu cành, màu tím hồng, gỗ nâu vàng, có thể dùng để đóng thuyền và đồ dùng ? Ta có thể tin
được có một cây đại danh mộc tên Mằng Lăng vì cây gỗ ấy hiện nay còn một mặt bàn tròn tại nhà
xứ Mằng Lăng, đường kính hơn 1,5m. Giáo xứ này hiện nay thuộc thôn Hội Tín, xã An Thạch, huyện
Tuy An, tỉnh Phú Yên. Giáo xứ do linh mục Phaolô Nguyễn Minh Chính quản nhiệm, với số giáo dân
là 2416 người.
THÁNH TÍCH
CỦA CHÂN PHƯỚC ANRÊ PHÚ YÊN
Sau khi Thầy
Anrê bị hành quyết, cha Đắc Lộ đã xin được thi hài Thầy Anrê và trao cho ông João de Rezende
de Figneiroa, thuyền trưởng chiếc tàu Bồ Đào Nha, chở về Macao.
Tàu tới đảo Macao ngày 13-8-1644.
Toà Giám mục Macao tổ chức đón rước thi hài thầy Anrê rất trọng thể. Khởi đầu, tất cả thi hài
các vị tử đạo có liên quan đến các vị thừa sai Dòng Tên đều được cất giữ và tôn kính trong Nhà
Nguyện dâng kính Đức Mẹ của Học Viện Dòng Tên tại Macao. Tuy nhiên vào 1837 (?), khi nhà
nguyện này đã bị cháy, thi hài các vị tử đạo cất giữ ở đó đã được chuyển đi nơi khác trước khi
bị ngọn lửa thiêu rụi. Rủi ro là trong lúc hoả hoạn, tất cả xương cốt, thi hài đã bị gom chung
vào một chỗ, ta không còn phân biệt xương nào là của ai nữa. Sau cùng người ta đã đưa tất cả
xương thánh đó ra nhà thờ Chính Toà. Do đó, các xương thánh của Chân Phước Anrê hiện còn ở Goa
nhưng chưa được xác định.
Riêng chiếc đầu thầy
Anrê, sau khi bị chém lìa khỏi thân, đã được cha Đắc Lộ cất trong một chiếc rương quý giá để
mang về Roma và giữ tại trụ sở của cha Bề Trên Cả Dòng Tên. Hiện nay, sọ của thầy Anrê được
đặt trong nguyện đường Nhà Mẹ của các cha Dòng Tên ở Roma để người ta đến kính viếng và ngưỡng
mộ. Với những phương tiện kỹ thuật và khoa học hiện nay, chúng ta tin là người ta có thể xác
định xương cốt của thầy Anrê ở Goa nhờ những mẫu xương sọ còn lại ở Roma. Nhưng ai sẽ đứng ra
thực hiện công việc này ?
Nhân dịp Giáo Hội toàn cầu tuyên dương vị anh hùng tử đạo đầu tiên của Giáo Hội
Việt Nam, chúng ta cùng ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc và Giáo Hội để biết can đảm
làm chứng cho Đức Giêsu Kitô giữa lòng dân tộc và nhân loại hôm nay, giữa bao thăng trầm và
thử thách trong cuộc sống. Chúng ta cũng luôn cầu nguyện để xin Chúa tiếp tục tôn vinh Chân
Phước Anrê theo đúng ý Ngài.